Trang chủ > Hỏi đáp Thầy thuốc > Cảnh báo nguy hiểm khi bẻ, nghiền nhỏ thuốc tây

Cảnh báo nguy hiểm khi bẻ, nghiền nhỏ thuốc tây

Đánh giá: 1 Sao2 Sao3 Sao4 Sao5 Sao (2 đánh giá, trung bình: 5,00 trong tổng số 5)
Loading...

Một số người có thói quen bẻ thuốc hoặc nghiền nhỏ khi uống tuy nhiên làm như vậy không chỉ làm giảm chất lượng thuốc mà còn có thể gây tai biến cho người bệnh.

Các loại thuốc hiện nay rất đa dạng tuy nhiên mỗi loại thuốc có dược động học riêng. Với thói quen dùng thuốc phải bẻ đôi, nghiền nhỏ, mở nang thuốc lấy bột hạt thuốc bên trong cho dễ uống không những làm giảm hoặc làm mất tác dụng của thuốc (dược động học của thuốc bị thay đổi) mà còn có thể xảy ra độc tính cho người bệnh.

Nguy hiểm với thói quen nghiền bẻ thuốc khi uống
Nguy hiểm với thói quen nghiền bẻ thuốc khi uống

1. Loại thuốc có dạng bào chế giải phóng dược chất kéo dài

Theo Giảng viên Cao đẳng Dược TPHCM tại Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur cơ sở TPHCM thì những loại thuốc dạng bào chế kiểm soát giải phóng (phóng thích dược chất kéo dài) phải giữ nguyên khi uống. Các thuốc dạng này thường được gọi với nhiều thuật ngữ khác nhau và có ký hiệu rõ ràng trên tên thuốc. Thuốc được bao bọc bởi 1 lớp màng mỏng đặc biệt hoặc có khung trơ (matrix) chứa thuốc. Đây là dạng thuốc sẽ phóng thích dược chất trong suốt thời gian di chuyển trong ống tiêu hóa nhằm cho tác dụng kéo dài, thời gian phóng thích dược chất có thể đến 12 hoặc 24 giờ.

Dấu hiệu nhận biết: ký hiệu trên tên thuốc thường có các chữ viết tắt trong Bảng 1. Ví dụ một số biệt dược có ở BV có các kí hiệu trên: GLUCOPHAGE XR (metformin), SaVi Trimetazidine MR (trimetazidin), Adalat LA (nifedipin), DUSPATALIN RETARD (mebeverine).

Tuy nhiên, cũng có nhiều tên thuốc không có ký hiệu để nhận biết như: AGGRENOX (aspirin and dipyridamole), PENTASA (mesalamine), PLENDIL (felodipine), NITROMINT (nitroglycerin).

Đặc biệt, dạng thuốc này chứa hàm lượng cao hơn dạng thuốc thông thường nên phải dùng đúng số viên, số lần trong ngày theo chỉ định của bác sĩ. Nếu dùng sai có thể gây quá liều nguy hiểm và đặc biệt không được nhai, bẻ nhỏ hoặc mở viên nang.

GLUCOPHAGE XR
GLUCOPHAGE XR

Bảng 1: Kí hiệu nhận biết thuốc giải phóng kéo dài

Kí hiệu

Tên tiếng AnhTên tiếng Việt
LALong actingTác dụng kéo dài
CRControlled releasePhóng thích có kiểm soát
CDcontrolled deliveryPhóng thích có kiểm soát
SRSustained releasePhóng thích chậm
XL/XRExtended releasePhóng thích kéo dài
SASustained actionTác dụng kéo dài
DADelayed actionTác dụng kéo dài
MRModified releaseTác dụng kéo dài
ERExtended releaseTác dụng kéo dài
PAProlonged actionTác dụng kéo dài
RetardRetard

Chậm

2. Loại thuốc bao tan trong ruột

Là dạng bào chế để thuốc đi qua dạ dày còn nguyên vẹn và chỉ tan ở phần đầu ruột non (tá tràng) và phóng thích dược chất ở ruột. Mục đích của dạng thuốc này là ngăn ngừa dược chất bị phân hủy trong môi trường acid của dạ dày chẳng hạn như các thuốc ức chế bơm proton NEXIUM (esomeprazole), OVAC (omeprazole) hoặc PARIET (rabeprazole); hay ngăn ngừa dược chất phóng thích ở dạ dày, gây hại cho niêm mạc dạ dày (như viên nén bao tan ở ruột aspirin pH=8). Với loại thuốc viên bao tan trong ruột, rất cần uống nguyên vẹn cả viên.

3. Loại thuốc ngậm dưới lưỡi

Với những viên thuốc đặt dưới lưỡi và ngậm cho tan cần đặc biệt lưu ý tuyệt đối không được bẻ đôi, bẻ nhỏ viên thuốc, nếu làm như vậy thì sẽ phá vỡ cấu trúc nguyên vẹn của thuốc, làm hỏng dạng thuốc. Ví dụ như thuốc SORBITRATE (isosorbide dinitrate), ERGOMAR (ergotamine).

4. Loại thuốc chứa dược chất có nguy cơ gây hại cho người tiếp xúc

Là thuốc điều trị ung thư, thuốc gây độc tế bào, thuốc ức chế miễn dịch. Việc nhai hoặc nghiền các thuốc này có thể không ảnh hưởng đến dược động học của thuốc nhưng sẽ tạo ra các hạt phân tử có khả năng gây hại cho người thao tác do hít phải các phân tử này.

Bảng 2:  Danh mục thuốc không được nghiền và bẻ tại BV ĐH Y Dược Huế

Hoạt chấtBiệt dược

2.1. Thuốc giải phóng kéo dài

Ferrous Sulfate + Acid folicTardypheron B9
MetforminGlucophage XR, Panfor SR
TheophyllinTheostat L.P
TrimetazidinSavi Trimetazidine 35 MR, Vastarel MR
GliclazidCrondia 30 MR, Diamicron MR
AlfuzosinGromzat 10mg
FelodipinMibeplen 5mg
Glimepiride + MetforminPerglim M-2
NifedipinCordaflex, Adalat LA
Mebeverin HClDuspatalin Retard
2.2. Thuốc bao tan ở ruột
Mycophenolic acidMyfortic
OmeprazoleOvac-20
RabeprazoleHAPPI, Pariet
EsomeprazoleNexium
2.3. Thuốc ngậm dưới lưỡi
Chất ly giải vi khuẩn đông khôImmubron

2.4. Thuốc viên sủi

Paracetamol + CodeinPanalganeffer codein
Calci lactat + Calci CarbonatBodycan
ParacetamolPartamol Eff, Savipamol 500, Effervescent
2.5. Thuốc ung thư
AnastrozolAremed, Arimidex, Dilonas
CapecitabinXeltabine, Xeloda
BicalutamideCasodex
TamoxifenNolvadex
Vinorelbine DitartrateNavelbine
CiclosporinSandimmun Neoral Cap
Mycophenolate mofetilCellcept

2.6. Thuốc rất đắng, mùi khó chịu

Berberin, Mộc hương

Antesik

Một số thuốc như DOLOBIB (diflunisal), FELDENCE (piroxicam), POSICOR (mibefradil) nếu nghiền hoặc mở viên nang, bột thuốc sẽ phân tán, tiếp xúc với da hoặc niêm mạc gây kích ứng. Thậm chí có thuốc như PROPECIA (finasteride), PROSCAR(finasteride) được khuyến cáo không được nghiền, bẻ nhỏ vì nếu bột thuốc bị phân tán, xâm nhập qua cơ thể phụ nữ mang thai (qua đường mũi, miệng) sẽ ảnh hưởng đến thai.

FELDENCE
FELDENCE

5. Loại thuốc rất đắng, có mùi khó chịu

Không nên nhai, nghiền những thuốc mà dược chất có mùi vị khó chịunhư ZINNAT (cefuroxim), REMERON (mirtazapine) hoặc dược chất gây kích ứng niêm mạc đường tiêu hóa như FOSAMAX (alendronate). Các thuốc: BETAPEN-VK (Penicillin V), CIPRO (ciprofloxacin), CEFTIN (cefuroxime), DESYREL (trazodone), EQUANIL (meprobamate), BERBERIN (berberin) là thuốc phải uống nguyên viên vì nếu bẻ nhỏ, nghiền nát, bệnh nhân sẽ không chịu được vị đắng khó chịu của dược chất.

Thông tin được đăng tải trên trang: caodangytetphcm.edu.vn

Có thể bạn quan tâm

Làm thế nào để học tốt chuyên ngành Dược?

Để học tốt các môn chuyên ngành dược với lượng kiến thức lớn thì sinh …